Administrator Contron Pannel

 

Trang Chủ  I   Giới Thiệu  I   Sản phẩm   I    Bí quyết - Kinh nghiệm   I    Phương pháp điều trị   I    Liên Hệ 

   DANH MỤC TIN

omron
   DỰ BÁO THỜI TIẾT
   TỶ GIÁ NGOẠI TỆ
   HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
 
Chat với nhân viên tư vấn
Nhân viên tư vấn
 
Chat với nhân viên tư vấn
Nhân viên tư vấn
 
   THỐNG KÊ WEBSITE
 

  Lượt truy cập: 1399526

  Đang online:
19

 

 

Nghiên cứu về bướu xương nguyên phát Nghiên cứu về bướu xương nguyên phát
Nghiên cứu về bướu xương nguyên phát
 
Gửi ngày 14 tháng 10 năm 2008

BƯỚU XƯƠNG NGUYÊN PHÁT NGHIÊN CỨU SUẤT ĐỘ VÀ PHÂN LOẠI 1712 TRƯỜNG HỢP

LÊ CHÍ DŨNG *

TÓM TẮT

1712 bướu xương nguyên phát được nghiên cứu cho thấy có mối tương quan rõ rệt giữa xuất độ, sự phát triển của bướu với nguồn gốc tạo mô và quá trình hình thành, tăng trưởng của xương. Bướu xương hay gặp ở lứa tuổi tăng trưởng (11 -30 tuổi), hiếm trước 10 và sau 40 tuổi. Nguồn gốc tạo mô của bướu thường nhất là mô sụn, mô xương và mô tủy. 85% bướu xương xảy ra ở xương hình thành từ nội sụn của tứ chi và 64% ở vùng đầu - đầu thân xương tăng trưởng nhanh của xương dài (gần gối - xa khuỷu). Chỉ có 1,3% bướu phát triển ở xương sọ mặt và 1,4% ở màng xương dài có quá trình tạo xương kiểu màng.

SUMMARY

Analysis of 1712 primary bone tumors confirms that there are evident correlations of the incidence, the localization of bone tumors and their histogenesis as well as the process of bone formation and growth. The bone tumors are found most frequently duringthe age of bone growth, i.e. from 11 - 30 y.o., and rarely before 10 y.o. and after 40 y.o. Their histogenesis are usually chondrogenic, osteogenic or myelogenic. 85% bone tumors occur at the tubular bones of the appendicular skeleton formed by the endocartilaginous ossification, especially at their fertile metaphyso - epiphysis (64%). There are only 1,3% bone tumors develop at the skull and facial bones and 1,4% from the periosteum formed by the intramebraneous ossification.

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Bướu xương nguyên phát hiếm gặp, việc chẩn đoán và phân loại còn nhiều khó khăn và thiếu thống nhất đặc biệt ở Việt Nam.

Mục tiêu của nghiên cứu nầy nhằm cung cấp:

(1) Xuất độ, sự phân bố và phân loại các bướu xương nguyên phát

(2) Xác lập (nếu có) mối tương quan giữa sự phát triển của bướu với nguồn gốc tạo mô và quá trình tăng trưởng của xương.

(3) Một số thông tin nhằm phục vụ công tác giảng dạy, đào tạo

II. TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

1. Tư liệu nghiên cứu:

Gồm 1712 bướu xương nguyên phát được điều trị tại bệnh viện Bình Dân từ năm 1955 - 1983 (hồi cứu) và tại Trung Tâm Chấn Thương Chỉnh Hình từ năm 1984 - 1977 (tiền cứu) với đầy đủ hồ sơ lâm sàng - X quang và giải phẫu bệnh.

2. Phương pháp nghiên cứu:

- Chẩn đoán, phân loại bướu xương dựa vào các đặc tính vi thể được hướng dẫn bởi các dữ kiện lâm sàng - X quang (11, 12, 14, 16, 18, 19, 22).

- Bảng phân loại được sử dụng là của Lê Chí Dũng (9)

- Dùng các phương pháp toán thống kê để phân tích các số liệu.

III. KẾT QUẢ VÀ NHẬN XÉT

1. Xuất độ:

1.1 Bướu xương:

Ba loại bướu hay gặp nhất là Sáccôm tạo xương, bướu sụn xương và bướu đại bào chiếm 60.5% tổng số các bướu xương. Kế đến là sáccôm sụn, bướu lành sụn và bướu limphô. Sáu loại bướu nầy chiếm đến 80% tổng số, là những loại có thể gặp trong thực tế lâm sàng. Các loại khác hiếm hoặc rất hiếm xảy ra, nhiều khi chỉ gặp được 1 - 2 trường hợp trong suốt cuộc đời nghề nghiệp của mình.

1.2 Xuất độ theo nguồn gốc tạo mô:

Nguồn gốc tạo mô Số trường hợp Tỷ lệ (%)
Mô sụn 693 40,5
Mô xương 457 26,7
Mô tủy 119 7,0
Mô sợi 98 5,7
Lá phôi ngoài - thần kinh 27 1,6
Mô bào 22 1,3
Mạch máu 18 1,1
Nguyên sống 16 0,9
Không rõ (bướu đại bào, bướu men răng) 262 15,3
Tổng cộng 1712 100,0

Bướu có nguồn gốc từ mô sụn hay gặp nhất kế đến là mô xương (P< 0,01). Các loại bướu nầy chiếm khoảng 2/3 tổng số (67%) các bướu xương nguyên phát. Kế đến là các bướu mô tủy và mô sợi.Các bướu không xuất phát từ mô liên kết rất hiếm gặp

2. Phân loại bướu xương:

* Bướu lành: 614 t.h. (36 %) gồm:

không hóa ác: 78 t.h. (4,6 %)

đôi khi hóa ác: 536 t.h. (31 %)

* Bướu giáp biên ác: 299 t.h. (17,5 %)

* Bướu ác: 799 t.h. (47 %)

Kết quả trên cho thấy:

- Bướu ác hay xảy ra hơn loại bướu lành và bướu giáp biên ác.

- Trong các bướu lành, loại có thể hóa ác hay gặp hơn nhiều so với loại không hóa ác (31% so với 4,6%) (P < 0,01). Vì vậy, cần "cảnh giác" và điều trị đúng cách đối với các bướu giáp biên ác và ngay cả với các bướu lành.

2.1 Bướu lành: 614 t.h. (36%)

- Các bướu lành hay gặp nhất thuộc nhóm đôi khi hóa ác và có nguồn gốc từ mô sụn:

Bướu sụn xương: 376 t.h. chiếm 62 % các bướu lành và 22 % các bướu xương, xếp thứ 2.

Bướu lành sụn: 107 t.h. chiếm 17 % các bướu lành và 6 % các bướu xương.

Riêng hai loại này đã chiếm 79% các bướu lành. Nếu tính thêm 45 bướu sụn xương nhiều nơi và 4 bướu sụn nhiều nơi thì các bướu lành mô sụn gồm 532 t.h. chiếm 87% các bướu lành.

- Các bướu lành khác rất hiếm gặp

2.2 Bướu giáp biên ác: 299 t.h. (17,ï5%)

- Chủ yếu các nhóm này là bướu đại bào xương (261 t.h.) chiếm 15% tổng số bướu xương đứng hàng thứ 3

- Hai loại có nguồn gốc từ nguyên bào sụn là bướu nguyên bào sụn và bướu sụn sợi nhầy chỉ chiếm 2% các bướu xương.

- Các bướu nguyên bào xương " tấn công" và bướu sợi dạng bó là những thực thể rất hiếm gặp.

2.3 Bướu ác: 799 t.h. (46,7%)

Xuất độ hay gặp theo thứ tự: (1) Sáccôm tạo xương: 400 t.h. (50%), (2) Sáccôm sụn: 126 t.h. (16%), (3) Bướu limphô: 96 t.h. (12%), (4) Sáccôm sợi: 64 t.h. (8%). (5) Sáccôm Ewing: 27 t.h. (3,4%), (6) Bướu tủy tương bào: 23 t.h. (3,4%), (7) Sáccôm cận vỏ: 20 t.h. (2,5%), (8) Bướu ác mô bào: 18 t.h. (2,3%), (9) Bướu nguyên sống: 16 t.h. (2%), (10) Sáccôm mạch máu: 5 t.h. (0,6%), (11) Sáccôm màng xương: 3 t.h. (0,4%), (12) Bướu " men răng": 1 t.h. (0,1%).

3. Phân bố theo tuổi - giới:

3.1 Bướu xương nguyên phát:

Tuổi-giới

Nam

Nữ

Tổng cộng

Tỷ lệ (%)

0 - 10

29

17

46

(3)

11 - 20

388

299

687

(40)

21 - 30

244

232

476

(28)

31 - 40

108

117

225

(13)

41 - 50

54

61

115

(7)

51 - 60

51

42

93

(5)

61 - 70

23

29

52

(3)

71 - 80

7

11

18

(()

Tổng cộng

904

808

1712

(100)

(%)

(53)

(47)

(100)

(100)

Lứa tuổi hay bị bướu xương nhất là từ 11 - 20, kế đến từ 21 - 30; tương ứng với độ tuổi xương tăng trưởng mạnh (68%). Bướu xương rất hiếm gặp dưới 10 tuổi (2,7%). Xuất độ giảm dần sau 30 tuổi và giảm hẳn sau 40 tuổi (P < 0,01). Sau 40 tuổi thường gặp nhất là cácxinôm di căn xương (1, 6, 11, 16, 18, 19).

- Giới Nam hay gặp hơn giới nữ (53 so với 47 %) (P > 0,05).

3.2 Bướu lành: 614 t.h

- Bướu lành hay xảy ra nhất ở lứa tuổi từ 11 - 20 (48%) kế đến là từ 21 - 30 tuổi (31%). Như vậy 79% các bướu lành xương xảy ra trong xuất độ tuổi xương tăng trưởng mạnh từ 11 - 30 tuổi, đặc biệt là đối với các bướu sụn xương (319 / 376 = 85%), bướu sụn xương nhiều nơi (40 /45 = 89%), bướu nguyên bào xương (5/5), bướu dạng xương (12/14), bướu sợi hóa xương (5/6), bướu lành xương (11/14), bướu lành mạch máu (10/13)...

- Các bướu lành sụn và bướu lành sợi vẫn xảy ra nhiều nhất ở lứa tuổi 11 - 30, nhưng có thể gặp ở lứa tuổi 31 - 50 với xuất độ thấp hơn.

3.3 Bướu giáp biên ác: 299 t.h.

- Bướu đại bào xương chủ yếu xảy ra ở lứa tuổi từ 21 - 40 tuổi (66%), có thể từ 11 - 20 (10%) và từ 41 - 60 (21%)

- Bướu nguyên bào sụn gặp ở tuổi dưới 30, đa số từ 11 - 20 tuổi (63%).

3.4 Bướu ác: 799 t.h.

Loại bướu / tuổi

0 -10

11-20

21-30

31-40

41-50

51-60

61-70

71-80

Cộng

(%)

Sa. tạo xương

15

282

83

17

3

0

0

0

400

51

Sáccôm sụn

2

21

41

28

14

10

9

1

126

16

Bướu limphô

1

11

28

14

17

14

7

4

96

12

Sáccôm sợi

0

10

17

11

8

12

3

3

64

8

Sáccôm Ewing

6

17

3

1

0

0

0

0

27

3

B.tủy tương bào

0

0

0

3

3

6

9

2

23

3

Sáccôm cận vỏ

0

4

10

3

2

1

0

0

20

3

Bướu ác mô bào

0

2

3

1

5

3

2

2

18

2

B. nguyên sống

0

0

0

1

5

4

4

2

16

2

Sáccôm mạch máu

0

0

0

1

0

2

1

1

5

1

S.màng xương

0

1

0

1

0

1

0

0

3

0,4

Bướu men răng

0

0

0

1

0

0

0

0

1

0,1

Tổng cộng

24

348

185

82

57

53

35

15

799

100

(%)

(3,0)

43,6

23,2

10,3

7,1

6,6

4,4

1,9

 

100

Nhận xét:

- Lứa tuổi hay gặp của từng loại bướu không khác so với các tác giả khác (1, 3, 4, 5, 6, 10, 11, 12, 13, 14, 16, 18, 19, 20, 21, 22, 23). Riêng sáccôm sụn được ghi nhận xuất hiện ở tuổi trẻ hơn.

- 80% bướu ác của bộ xương xảy ra trước 40 tuổi nhất là từ 10 -30 (530/ 799 = 67%).Dưới 20 tuổi chủ yếu gặp sáccôm tạo xương và sáccôm Ewing.

- Sáccôm tạo xương hay gặp nhất từ 11 - 20 tuổi (282 / 400 = 70,5%) và 91% phát triển trong độ tuổi xương tăng trưởng nhanh (11 - 30 t).

- Trong khoảng từ 11 - 30 tuổi, 2/3 các bướu ác là sáccôm tạo xương.

- Bướu tủy tương bào và nguyên sống gặp ở tuổi trên 40

- Các bướu ác khác phân bố rải khắp các tuổi.

4. Phân bố theo vị trí:

Không kể đến 22 bướu tủy tương bào, 1 bướu ác mô bào, 4 bướu sụn nhiều nơi,45 bướu sụn xương nhiều nơi xảy ra ở nhiều vị trí. Có 4 bướu lành mạchmáu, 3 bướu limphô, 2 sáccôm tạo xương và 1 sáccôm sụn có 2 vị trí.Trong số 1639 bướu còn lại phân bố theo vị trí như sau:

- Xương dài, lớn tứ chi:

1276

(77,9%)

- Xương đai chi (chậu, bả vai)

116

(7,1%)

- Xương cổ bàn ngón:

117

(7,1%)

- Xương sống:

53

(3,2%)

- Xương đòn - ức sườn

58

(3,5%)

- Xương sọ - mặt:

22

(1,3%)

- Xương bánh chè:

4

(0,2%)

Như vậy, bướu xương hầu hết xảy ra ở tứ chi (84%) và đai chi (7%) nhất là vùng gần gối (848 t.h. = 52%) và xa khuỷu (208 t.h.= 13%). Trong 1276 t.h. bướu ở tứ chi thì vị trí " gần gối" chiếm 67% và " xa khuỷu" 16%, tổng cộng 83%.

Sự phân bố của các bướu xương theo vị trí cơ thể và vị trí trên xương giống của các tác giả khác (1, 3, 4, 5, 6, 10, 11, 12, 13, 14, 16, 18, 19, 20, 21, 23, 24).

IV. BÀN LUẬN

1. Xuất độ:

Ba bướu thường gặp nhất theo theo thống kê này là sáccôm tạo xương, bướu sụn xương và bướu đại bào xương chiếm 60,8% tổng số các bướu xương. Ở các nước phương Tây, các bướu hay gặp nhất là bướu tủy tương bào [ 31% theo MIRRA (18), 36% theo DAHLIN (6)], sáccôm tạo xương, bướu sụn xương và sáccôm Ewing [ 5 -10% theo MIRRA, DAHLIN, COLEY (5,6,18)]. Trong khi đó theo các nghiên cứu của các tác giảthì hai loại bướu tủy tương bào và sáccôm Ewing rất hiếm (9). Theo tài liệu này thì sáccôm Ewing chiếm 1,6% xếp thứ 9, còn bướu tủy tương bào chiếm 1,3% xếp thứ 11.

Bướu đại bào xương hay gặp ở các nước Đông Á, Đông Nam Á và hình như có vẻ " tấn công" hơn, " ác tính" hơn so với các nước Âu Mỹ (2, 8, 15, 17, 20).

2. Mối tương quan giữa sự phát triển của bướu với nguồn gốc tạo mô và quá trình tăng trưởng của xương:

Theo các kết quả trên đây:

- 85% bướu xương xảy ra ở tứ chi, có nghĩa là các xương hình thành từ sự phát triển nội sụn theo đó quá trình phát triển mạnh nhất là tuổi dậy thì, thanh thiếu niên. Điều nầy phù hợp với kết quả 67,9% bướu xương ở lứa tuổi 11 - 30 (mục 3.1)

Hơn 1/2 bướu xương (51,7%) có vị trí ở vùng gần gối và 12,6% ở xa khuỷu (mục 4.) cho thấy các khối u phát triển chủ yếu ở vùng đầu - đầu thân xương tăng trưởng mạnh của các xương dài nhất là đầu dưới xương đùi và đầu trên xương chày. Theo DIMEGLIO 70 - 80% sự tăng trưởng của xương dài, lớn tứ chi là nhờ vùng đầu thân xương "gần gối - xa khuỷu" (7). CHAFFAI (4), FECHNER (11) cho rằng sáccôm tạo xương xảy ra ở vùng đầu thân xương dài sinh sản mạnh.

Các kết quả đã nêu tương ứng với nguồn gốc tạo mô của bướu đa số là mô sụn và mô xương

(67,2% mục 1.2.) cũng như mô sợi với tỷ lệ thấp hơn (5,7%) có nghĩa là các bướu thuộc mô liên kết của xương (xương, sụn, sợi).

- 7% bướu xương thuộc nhóm mô tủy (bướu limphô, bướu tủy tương bào) chủ yếu xảy ra ở thân xương dài (có thể vùng đầu thân xương) và ở xương sống là nơi bình thường giàu mô tủy. Hiện nay,sáccôm Ewing có nguồn gốc từ lá phôi ngoài thần kinh (10, 11, 23).

- Chỉ có 1,3% bướu xương xảy ra ở xương sọ mặt được hình thành từ quá trình tạo xương kiểu màng có thể do sự tăng trưởng và chu kỳ tái tạo xương rất chậm nên ít rối loạn sinh bướu.

- Bướu xương cũng rất hiếm xảy ra ở màng xương là nơi có quá trình tạo xương kiểu màng, chỉ chiếm 1,4% (1,2% sáccôm cận vỏ và 0,2% sáccôm màng xương).

Thống kê của DAHLIN và UNNI cho thấy chỉ có 68/11087 bướu ở xương sọ - mặt và 6 bướu phát triển từ màng xương.

Những phân tích trên đây cho thấy có mối quan hệ rõ rệt giữa xuất độ, sự phát triển của bướu với nguồn gốc tạo mô và quá trình hình thành tăng trưởng của xương.

V. KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 1712 trường hợp bướu xương được điều trị tại Bệnh viện Bình Dân và Trung Tâm Chấn Thương Chỉnh Hình, các tác giả có những kết luận sau:

(1) Trong những bướu xương nguyên phát được điều trị, các bướu ác hay gặp hơn bướu lành và bướu giáp biên ác.

(2) Giới Nam hay gặp hơn giới Nữ (P > 0,05).

(3) Lứa tuổi hay bị bướu xương nhất là từ 11 - 20 và từ 20 -30 tương ứng thời điểm xương tăng trưởng mạnh.

(4) Bướu xương nguyên phát hiếm gặp trước 10 tuổi và xuất độ giảm hẳn sau 40 tuổi (P < 0.01)

(5) Các bướu hay xảy ra nhất có nguồn gốc từ mô sụn, kế đến mô xương, mô tủy, mô sợi...

(6) Ba bướu hay xảy ra nhất theo thứ tự: sáccôm tạo xương, bướu sụn xương và bướu đại bào.

(7) 85% bướu xương xảy ra ở xương tứ chi được hình thành từ quá trình tạo xương nội sụn.

(8) 64,3% bướu xảy ra ở vùng gần gối - xa khuỷu nghĩa là ở vùng đầu - đầu thân xương dài tăng trưởng mạnh.

(9) Rất hiếm bướu xương phát triển ở xương được hình thành từ kiểu tạo xương màng như xương sọ mặt (1,3%) và màng xương dài (1,4%).

(10) Có mối liên quan rõ rệt giữa xuất độ, sự phát triển của bướu với nguồn gốc tạo mô và quá trình tăng trưởng của xương.

Y VĂN THAM KHẢO

  1. AEGERTER E, KIRPATRICH JA: Orthopedic diseases, W.B Saunders Co., 4th ed., 1975

  2. HOÀNG TIẾN BẢO: Nghiên cứu bướu đại bào xương: Luận án Thạc sĩ Khoa học, Khoa Y, Trường Đại Học Temple, Philadelphia, 1965

  3. CARNESAL RG: Tumors of bone, in " Campbell's operative orthopaedics. The C.V. Mosby Co., St Louis, Washington D.C, 7th ed., V 2: 711 -726, 1987

  4. CHAFFAI MA, BASQUE G, CASADO B: Les tumeurs osseuses.IV èmes Cours de perfectionnement en radiologie ostéo-articulaire.Toulouse 15 et 16 Déc.1987

  5. COLEY BL: Neoplasms of bone.Paul B. Hoeber Inc., New York, 2nd ed., 1960

  6. DAHLIN DC: Bone tumors.Charles C Thomas Publisher, Illinois, 3rd ed., 1978

  7. DIMIGLIO A.:Orthopédie pédiatrique quotidienne Sauramps médical, Montpellier: 67 - 74, 1988

  8. LÊ CHÍ DŨNG: Treatment of Giant Cell tumors of bone AOA 15th _ TOA 17th Meeting, Cha - Am, Thailand, Oct. 24 - 28, 53, 1995

  9. LÊ CHÍ DŨNG: Phân loại bướu xương - nghiên cứu 1455 trường hợp. Hình thái học, tập 5, số 2: 25 - 30, 1995

  10. ENNEKING, WF: Clinical musculoskeletal pathology, Univ. of Florida, 1998

  11. FECHNER RE, MILLS SE: Tumors of the bone and joints. Atlas of tumor pathology, Washington D.C., 3rd series, F.8, A.F.I.P., 1989

  12. FOREST M.: Anatomie pathologique des tumeurs osseuse. Cahiers d'enseignement de la SOFCOT, 34: 190 - 209, 1987

  13. GREENFIELD GB, ARRINGTON JA: Imaging of bone tumors, a multimodality approach, J.B. Lippincott Co., Philadelphia, 1995

  14. JAFFE HL: Tumors and tumorous conditions of the bones and joints. Lea and Febiger, Philadelphia, 1958

  15. LÊ KÍNH, TRẦN Q. DỰ, VÕ THÀNH PHỤNG: Điều trị u hủy cốt bào trong 25 năm ở BV Bình Dân. Tạp chí Y học Trường Đại Học Y Dược Tp Hồ Chí Minh - Công trình nghiên cứu khoa học 1990 - 1994, chuyên san tập 2, số 2: 58 - 66, 1994

  16. LICHTENSTEIN L: Bone tumors. The C.V. Mosby Co., St Louis, 5th ed., 1977

  17. NGUYỄN QUANG LONG, NGÔ BẢO KHANG, NGUYỄN VĨNH THỐNG: Tumeurs à myéloplaxe: Etude critique de 23 cas suivis.

  18. La Lettre d'orthopédie et de Traumatologie, 10: 14 -16, 1992

  19. MIRRA JM: Bone tumors: Clinical, radiologic and pathologic correlations. Lea and Febiger, Philadelphia, 1995.

  20. SCHAJOWICZ F.: Tumors and tumorlike lesions of bone and joints. Springer Verlag, NewYork, 1981

  21. SUNG HW, KUO DP et al: Giant cell tumor of bone: analysis of 208 cases in Chinese patient, J.B.J.S. 64 A: 755-761,June 1982

  22. THEROS EG: Bone disease, The radiologic clinics of North America, W.B. Saunders Co., Philadelphia, V0 19, N0 4: 715 - 814, Dec 1981

  23. TRIFAUD A.: Circonstances de découverte, démarche diagnostique et classification des tumeurs malignes primitives des os. Rev. prat.(Paris), 32. 55 - 56: 3485 - 3493, 1982

  24. UNNI KK: Dahlin's bone tumors: General aspects and data on 11.087 cases, Lippincott - Raven Publisher, Philadelphia, 5th ed., 1996


(*)Khoa Bệnh học Cơ-xương-khớp,Trung tâm Chấn thương Chỉnh hình TP Hồ Chí Minh

( )

TIN MỚI NHẤT

 
  

 

 
Từ khóa: Mục tin:
citozen
   TIN TỨC MỚI NHẤT
Đau nhức sau mổ nối xương, làm sao giảm?
Phòng ngừa và điều trị đau thắt lưng bằng đai thắt lưng đa năng Bách Huyên
Bí quyết phòng tránh đau lưng
Phục hồi chức năng vận động cho bệnh nhân viêm khớp dạng thấp
Cách điều trị và phòng tránh thoát vị đĩa đệm
Đau vùng thắt lưng cách phòng và chữa
Đi bộ nhiều, tăng nguy cơ thoái hóa khớp gối
Nguyên nhân và cách điều trị đau vai
Những phát hiện mới về đau lưng
Điều trị đau lưng có nguyên nhân từ cột sống
Triệu chứng và điều trị thoái hoá cột sống cổ
10 CÁCH NGĂN NGỪA THOÁI HÓA KHỚP
Phương pháp mới điều trị thoái hóa khớp háng- Mổ ít xâm lấn
Dinh dưỡng cho người viêm xương khớp
 

 Copyright © 2008 www.coxuongkhop.com.vn. Allright reserved. Design by Phan Ngọc Nam